MAGIE, SỨC KHỎE – PHÒNG TRÁNH BỆNH TẬT

Tiến sĩ, Bác sĩ Chris Meletis, Bác sĩ Y Khoa Tự Nhiên – Naturopathic Doctor – N.D.

Magie là một trong những chất khoáng quan trọng trong cơ thể (khoảng 20 đến 28 gram magiê), 60% được tìm thấy trong xương và răng, trong khi 40% còn lại được tìm thấy trong cơ. Mức độ magiê trong huyết thanh dao động từ 1,5 đến 2,1 mEq / L; magiê là ion tích điện dương thứ hai được tìm thấy trong các tế bào của cơ thể, cho thấy tầm quan trọng của nó trong vô số các chức năng sinh lý tế bào. Một trong những quá trình trao đổi chất quan trọng nhất là tổng hợp và tiêu thụ ATP, trực tiếp liên quan đến magiê. Các quá trình Magnesium-liên kết ATP kích hoạt khoảng 300 loại enzym khác nhau liên quan đến các chức năng như tổng hợp ADN và RNA, glycolysis, vận chuyển khoáng chất trong tế bào, tạo xung thần kinh, điện thế màng tế bào, co cơ, huyết mạch và tái sinh ATP. (*1)

Tổng Hàm lượng Magie được đề nghị cung cấp hàng ngày cho người trưởng thành (RDA) là 350 mg mỗi ngày ở nam giới và 280 miligam ở phụ nữ. Chế độ ăn uống điển hình của người Mỹ cung cấp khoảng 120 miligam mỗi 1.000 calo, có nghĩa là một người tiêu thụ ít hơn 1.500 calo sẽ thiếu magiê. Tỷ lệ hấp thụ magiê dao động từ 24 đến gần 85%, magiê từ các nguồn kim loại khó hấp thụ, trong khi magiê từ nguồn thực vật dễ hấp thu hơn. Các yếu tố làm tăng nhu cầu magiê do hạn chế sử dụng hoặc tăng tiêu thụ phốt pho dư thừa (nước giải khát) và đồ uống có cồn, căng thẳng, một số thuốc lợi tiểu, digitalis, tập thể dục nhiều (vận động viên tập luyện với cường độ cao thường mất một lượng magie đáng kể trong mồ hôi), phụ nữ mang thai và cho con bú, người mắc bệnh tiểu đường, tiêu chảy nặng hoặc bệnh thận. Các dấu hiệu ban đầu của thiếu magiê bao gồm các triệu chứng mơ hồ như ăn mất ngon, đau dạ dày, và tiêu chảy. Các triệu chứng thiếu hụt dài hạn có thể biểu hiện như nhầm lẫn, thờ ơ, trầm cảm, khó chịu, rối loạn nhịp tim, yếu ớt, phối hợp kém, buồn nôn, thay đổi điện cơ đồ, cơ và hệ thần kinh không thoải mái, tê và run. (*2)

Magie hỗ trợ cho tình trạng sức khoẻ chung. Là một loại kháng axit, muối magiê phản ứng với axit dạ dày để tạo ra magiê clorua, do đó vô hiệu hóa axit clohiđric. Magiê hoạt động là chất nhuận tràng, khi hoạt động trong ruột và ruột già, cũng như kích hoạt sự giải phóng gastrin và cholecystokinin, kích thích vận động dạ dày. Tác dụng ức chế những cơn co bóp sinh non của magiê là do sự đối kháng canxi – làm điều hòa các cơn co thắt tử cung, trong khi tác dụng chống co giật của magiê trong sản giật có thể là do sự ức chế sự truyền dẫn thần kinh cơ và ảnh hưởng của trầm cảm dẫn đến sự co thắt cơ trơn. (*3)

Magie và huyết áp
Magie có vai trò quan trọng trong việc làm giảm huyết áp (*4) Thiếu magiê làm tăng nồng độ natri và kali trong tế bào, dẫn đến tăng khả năng ngoại biên và co mạch (*5). Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân cao huyết áp và hạ huyết áp thường đòi hỏi nhiều loại thuốc chống cao huyết áp hơn những bệnh nhân tăng huyết áp có mức magiê bình thường (*6). Các chế độ ăn có nhiều trái cây và rau quả, là nguồn cung cấp kali và magiê, thường liên quan đến huyết áp thấp.(*7) Tác động của các chất dinh dưỡng khác nhau liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp đã được kiểm tra trên 30.000 người tại Mỹ. Sau bốn năm theo dõi, người ta nhận thấy rằng lượng magiê càng lớn có liên quan mật thiết đến giảm nguy cơ cao huyết áp (*8) Ủy ban Quốc gia chung về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị cao huyết áp khuyên duy trì hấp thụ magiê để phòng ngừa và quản lý cao huyết áp (*9).

Magie và bệnh tim

Magie giúp giảm sức cản mạch vành, làm tăng các thông số dòng máu động mạch vành, và chống loạn nhịp. Hơn nữa, thiếu và hấp thụ magie kém phát triển các bệnh như cao huyết áp, bệnh cơ tim, chứng xơ vữa động mạch và đột quỵ (*10) Bằng chứng cho thấy cơ thể có ít magie làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp, nguy cơ biến chứng tim mạch (*11) Các cuộc điều tra về tổng thể dân số đã cho thấy lượng magiê trong máu cao ít có nguy cơ mắc bệnh tim mạch (*12) Ngoài ra, các cuộc điều tra chế độ ăn uống cho thấy lượng magiê cao làm giảm nguy cơ đột quỵ (*13)

Magie và bệnh loãng xương

Thiếu magie làm tăng nguy cơ cho loãng xương sau khi mãn kinh. Điều này có thể liên quan đến sự thiếu hụt magiê làm thay đổi sự chuyển hóa canxi và hoocmon kiểm soát canxi trong xương (*14). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung magiê giúp cải thiện mật độ khoáng xương, sử dụng ít hoặc hấp thu kém magiê liên quan đến sự phát triển của chứng loãng xương.

Magie và bệnh tiểu đường

Magie đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa chất carbohydrate, ảnh hưởng đến sự giải phóng và hoạt động của insulin, hoocmon chính kiểm soát nồng độ glucose trong máu. Nồng độ glucose trong máu tăng lên có thể làm mất magiê trong nước tiểu, dẫn đến mất magiê trong cơ thể. Thông thường, nồng độ magiê huyết thanh thấp thường thấy ở những người tiểu đường.

Magie và Suyễn

Magie cần thiết cho cấu trúc và chức năng phổi. Magnesium tác dụng ngăn chặn các chức năng của canxi trong phổi gây ra co thắt cơ trơn cuống phổi. Thiếu magiê có thể góp phần làm biến chứng của phổi. Điều cần lưu ý là mức tiêu thụ canxi trung bình ở Mỹ đã tăng lên trong vài năm qua những sự thay đổi trong lượng tiêu thụ magiê không đáng kể, gây mất cân bằng tỷ lệ canxi:magiê (*15) Thiếu magiê ảnh hưởng đến hoạt động của các bạch cầu đặc biệt (bạch cầu trung tính) trong cơn suyễn làm tình trạng trầm trọng hơn. Các nhà nghiên cứu đưa giả thuyết rằng hàm lượng magiê thấp trong các tế bào bạch cầu có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành bệnh suyễn (*16). Giàu Magiê sẽ trực tiếp giúp cho phổi hoạt động khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ quá mẫn đường dẫn khí và chứng thở khò khè.

Tài liệu tham khảo

*1 Shils M, Olson A, Shike M. Modern Nutrition in Health and Disease. 8th ed. Philadelphia, PA: Lea and Febiger, 1994.

*2 Whitney E, Cataldo CB, Rolfes SR, eds. Understanding Normal and Clinical Nutrition. Belmont, CA: Wadsworth, 1998.

*3 Swain R, Kaplan-Machlis B. Magnesium for the next millennium. South Med J 1999;92: 1040-7

*4 Yamori Y, Nara Y, Mizushima S, et al. Nutritional factors for stroke and major cardiovascular diseases: international epidemiological comparison of dietary prevention. Health Rep 1994; 6(1):22-7

*5 Douban S, Brodsky MA, Whang DD, Whang R. Significance of magnesium in congestive heart failure. Am Heart J 1996;132(3):664-71

*6 Altura BT, Memon ZI, Zhang A, et al. Low levels of serum ionized magnesium are found in patients early after stroke which result in rapid elevation in cytosolic free calcium and spasm in cerebral vascular muscle cells. Neurosci Lett 1997;230:37-40

*7 Simopoulos AP. The nutritional aspects of hypertension. Compr Ther 1999;25:95-100.

*8 Ascherio A, Rimm EB, Giovannucci EL, Colditz GA, Rosner B, Willett WC, Sacks FM, Stampfer MJ. A prospective study of nutritional factors and hypertension among US men. Circulation 1992;86:1475-84.

*9 National Heart, Lung, and Blood Institute. Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure. The sixth report of the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Pressure. Arch Intern Med 1997;157:2413-46.

*10 Appel LJ. Nonpharmacologic therapies that reduce blood pressure: A fresh perspective. Clin Cardiol 1999;22:1111-5.

*11 Institute of Medicine. Food and Nutrition Board. Dietary Reference Intakes: Calcium, Phosphorus, Magnesium, Vitamin D and Fluoride. National Academy Press. Washington, DC, 1999.

*12 Ford ES. Serum magnesium and ischaemic heart disease: Findings from a national sample of US adults. Intl J of Epidem 1999;28:645-651.

*13 Ascherio A, Rimm EB, Hernan MA, Giovannucci EL, Kawachi I, Stampfer MJ, Willett WC. Intake of potassium, magnesium, calcium, and fiber and risk of stroke among US men. Circulation 1998;98:1198-204.

*14 Rude RK and Olerich M. Magnesium deficiency: Possible role in osteoporosis associated with gluten-sensitive enteropathy. Osteoporos Int 1996;6:453-61.

*15 Landon RA, Young EA. Role of magnesium in regulation of lung function. J Am Diet Assoc 1993 Jun;93(6):674-7

*16 Fantidis P, Ruiz Cacho J, Marin M, Madero Jarabo R, Solera J, Herrero E. Intracellular (polymorphonuclear) magnesium content in patients with bronchial asthma between attacks. J R Soc Med 1995 Aug;88(8):441-5

*17 Britton J, Pavord I, Richards K, Wisniewski A, Knox A, Lewis S, Tattersfield A, Weiss S. Dietary magnesium, lung function, wheezing, and airway hyperreactivity in a random adult population sample. Lancet 1994 Aug 6; 344(8919): 357-62